(Vũ Cao Đàm dịch)
Đăng bởi Trọng Khiêm
Thứ tư, 15 Tháng 6 2011 22:56
“...Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị...”
Sau đây là nội dung bài báo Tàu đã được dịch :
Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.
Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Vi ệt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.
Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm. Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philipin, Malaysia, Indonesia, Bruney… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.
Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”. Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta. Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được. Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền. Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.
Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là Việt Nam.
Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa :
1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.
2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.
3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.
4. Hai nước Trung – Vi ệt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.
5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.
6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – M ỹ ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.
7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.
8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân của Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.
9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến, nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như : cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.
10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.
Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.
Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.
Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết. Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.
Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.
Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.
Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipin, Malaysia, Bruney... giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc. Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.
Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối. Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ. Nếu Việt Nam nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.
Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa.
Gs. Vũ Cao Đàm dịch theo nguyên bản tiếng Tàu trên điện báo “Trung quốc Binh khí Đại toàn”
Ghi là bài mến chuộng Đánh đấu ghi nhớ Gởi bài này qua điện thư Lần đọc: 124Lời bình (0)
Ghi danh để nhận phản hồi bài này Viết lời bình
Bạn phải đăng nhập để viết lời bình. Nếu bạn chưa có trương mục, xin bạn ghi danh.
Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011
Thứ Hai, 13 tháng 6, 2011
Mỹ tính gì ở Biển Ðông?
Submitted by Lê Quốc Tuấn on Sun, 06/12/2011 - 06:14
Ngô Nhân Dụng
Một vị độc giả Nhật báo Người Việt viết thư nêu ý kiến rằng nước Mỹ sẽ chẳng đời nào để tâm đến những tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc; lý do là vì Mỹ đã “nhường Việt Nam cho Trung Cộng” từ khi ông Nixon đi Tầu năm 1972 rồi. Vị độc giả nêu thêm một bằng cớ: Năm 1974 quân Trung Cộng tấn công chiếm quần đảo Hoàng Sa; trong khi Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa bị tàn sát thì Hạm Ðội Thứ Bẩy của Mỹ đứng ngoài không can thiệp mặc dù lúc đó nước Mỹ vẫn là đồng minh. Không những thế, khi tầu Việt Nam bị đánh chìm các sĩ quan đã điện xin chiến hạm Mỹ đến vớt các thủy thủ lênh đênh trên mặt biển, họ hoàn toàn bất động.
Ai cũng phải tức giận trước thái độ làm ngơ vô tình của Hạm Ðội Thứ Bẩy của Mỹ khi không cho tầu đi cứu vớt các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam. Không biết họ có lý do kỹ thuật nào để từ chối hay không; nhưng thái độ đó không thể nào tha thứ được.
Nhưng về mặt chính trị thì chúng ta hiểu tại sao chính phủ Mỹ quyết định đứng ngoài không can thiệp vào vụ Hoàng Sa năm 1974. Về mặt ngoại giao cũng như trên mặt chiến lược, nước Mỹ không thấy lý do nào đủ mạnh để can thiệp vào vụ Hoàng Sa.
Lúc đó chính phủ Nixon đã quyết định rút khỏi Việt Nam rồi. Năm 1968, trong khi đang tranh cử tổng thống, ông Richard Nixon đã cho cố vấn Henri Kissinger đến gặp riêng đại sứ Nga tại Washington, yêu cầu chính phủ Nga đừng làm gì ảnh hưởng tới cuộc bầu cử năm đó. Ông Kissinger nói với Ðại Sứ Dobrynin rằng ông Nixon chắc chắn sẽ rút quân Mỹ khỏi Việt Nam. Và ông nhấn mạnh: Sau đó chế độ chính trị ở miền Nam Việt Nam ra sao, Mỹ cũng không quan tâm, “dù đó là một chế độ cộng sản.” Ðại Sứ Anatoliy F. Dobrynin đã nhắc đến những lời Kissinger cam kết như vậy 2 lần trong cuốn hồi ký của ông ta in năm 1995; ông kể đủ chuyện về 24 năm làm đại sứ, qua sáu đời tổng thống Mỹ từ 1962 đến 1986 (ông mới qua đời năm 2010).
Năm 1974, sau khi Kissinger đã ký hiệp định Paris để rút quân, chính phủ Mỹ coi những tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Cộng không dính líu đến họ. Vào năm 1974, chính phủ Mỹ có thể đã nhìn trước thấy trước sau miền Nam sẽ bị cộng sản chiếm. Họ không thể vì bênh vực một quốc gia sắp rơi hoàn toàn vào tay một chính quyền cộng sản mà đi gây thêm rắc rối với Trung Quốc, một nước mà họ đang ve vãn để cùng hợp tác chống Nga Xô!
Từ thời gian đó cho tới gần đây, nước Mỹ vẫn giữ thái độ đứng ngoài mọi tranh chấp giữa hai nước cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Vùng Biển Ðông là địa bàn tranh chấp giữa hai nước cộng sản đó, nước Mỹ không dính vào, trừ khi có chuyện nào liên hệ tới quyền lợi của các nước Ðông Nam Á và các nước đồng minh của Mỹ như Ðài Loan, Nhật Bản hoặc Nam Hàn. Ngay cả sau khi chính phủ Mỹ đã mở bang giao với cộng sản Việt Nam, các vị tổng thống Mỹ như Clinton, Bush, đã đến thăm Việt Nam và giúp Việt Nam vào tổ chức Thương Mại Thế Giới, chính phủ Mỹ luôn công khai đứng ngoài trước các tranh chấp giữa Bắc Kinh và Hà Nội.
Nhưng trong tuần qua, có những dấu hiệu cho thấy chính sách của Mỹ đang thay đổi, qua các hành động và lời tuyên bố của ông bộ trưởng quốc phòng Mỹ. Ông Robert Gates đã nhân cuộc họp mặt ở Singapore về các vấn đề an ninh khu vực để gặp riêng bộ trưởng quốc phòng của chính quyền Cộng Sản Việt Nam. Hành động này có thể chỉ được coi là một cử chỉ xã giao bình thường nếu không có những lời tuyên bố của ông Gates, rõ ràng nhắm vào Trung Quốc.
Ông Gates nói thẳng đến vùng Biển Ðông (thường gọi là Nam Hải của Trung Quốc). Ông nhấn mạnh rằng Biển Ðông là một vùng đang căng thẳng. Nước Mỹ tỏ ra không phải chỉ quan tâm đến phía Ðông Bắc Á Châu, nơi Bắc Hàn đang gây hấn, mà vẫn ngó về phía Nam. Nhưng ông Gates nói rõ: “Biển Ðông không phải chỉ là mối lo của các nước chung quanh,” mà còn đáng quan tâm đối với “các nước có quyền lợi kinh tế liên can” đến vùng này. Không nói ai cũng hiểu: Nước Mỹ nằm trong các quốc gia có quyền lợi kinh tế trong vùng này. Nước Mỹ phải có mặt trong vùng Biển Ðông để bảo vệ các quyền lợi đó.
Ông Gates nhắc lại chính sách của Mỹ là “ổn định, bảo đảm quyền tự do đi lại và quyền phát triển kinh tế của các nước trong vùng Biển Ðông không bị ngăn cản.” Ðó chỉ là những nguyên tắc chung chung, không đủ để khiến cho Trung Quốc coi là có thái độ khiêu khích họ. Hai điều ai cũng có thể nói và ai cũng đồng ý: Cần ổn định và tự do sử dụng đường biển nối liền vùng Ðông và Nam Á Châu với Âu Châu và thế giới dầu lửa Á Rập.
Nhưng có một điều mới mẻ: Ðây là lần đầu tiên một vị bộ trưởng quốc phòng Mỹ nhấn mạnh thêm đến “quyền phát triển kinh tế không bị ngăn cản” của các quốc gia trong vùng Biển Ðông. Và ông ta nói trong một hội nghị về an ninh trong vùng.
Tại sao nhắc đến quyền lợi kinh tế? Vì, cũng trong câu chuyện ngày Thứ Bẩy vừa qua, ông Robert Gates nhắc đến chính sách Mỹ là phản đối tất cả mọi hăm dọa đối với các công ty năng lượng dầu khí của Mỹ hay của bất cứ nước nào khác, đang hoạt động trong khu vực này. Ðiều này rõ ràng không thể nào hiểu lầm được: Ông Gates ám chỉ việc Trung Cộng ngăn cấm các công ty Mỹ dò tìm dầu khí ở trong vùng biển mà Việt Nam coi là thuộc hải phận của mình.
Năm 2007, Bắc Kinh đã làm áp lực đối với công ty British Petrolium Anh Quốc, buộc họ ngưng hợp đồng khai thác dầu khí với Việt Nam. Năm 2008, công ty Mỹ Exxon Mobil cũng phải rút lui không tìm mỏ dầu ở thềm lục địa Việt Nam nữa. Chính quyền Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn bó tay và kín miệng trước các hành động áp bức đó. Các công ty dầu khí quốc tế thì phải tự lo quyền lợi kinh tế của chính họ: Nếu không nghe lệnh Bắc Kinh, họ sẽ mất các hợp đồng với Trung Quốc, là một thị trường nhiều triển vọng tốt hơn gấp bội. Nhưng chính phủ Mỹ không thể làm ngơ, vì họ chịu trách nhiệm với Quốc Hội Mỹ, nơi các công ty dầu lửa không ngừng vận động hành lang. Năm ngoái, nhân viên Bộ Ngoại Giao Mỹ đã bị các đại biểu Quốc Hội chất vấn về hiện tượng Trung Cộng ngăn cản các công ty Mỹ khi khai thác trong vùng Biển Ðông của Việt Nam.
Bây giờ, chính một vị bộ trưởng quốc phòng Mỹ đã đề cập tới vấn đề này, tại một hội nghị quốc tế về vấn đề an ninh trong vùng Ðông Nam Á. Cho nên, chúng ta có thể thấy một bước chuyển biến mới trong chính sách ngoại giao của chính phủ Mỹ. Họ xác định quyền lợi kinh tế của nước Mỹ trong vùng biển mà trước đây họ coi như các tranh chấp ở đó hoàn toàn là vấn đề của các nước chung quanh, nước Mỹ đứng xa không can thiệp. Ông Robert Gates xác định: Nước Mỹ có những quyền lợi kinh tế trong vùng Biển Ðông. Và người đại diện chính phủ Mỹ nói thẳng điều này với đại diện của chính phủ Bắc Kinh. Thử nhớ lại, năm 1974 chính phủ Nixon bỏ rơi các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam cho quân Trung Cộng tàn sát, 7 tháng trước khi ông Nixon từ chức. Ba mươi sáu năm sau, một chính phủ Mỹ khác xác định họ sẽ bảo vệ quyền lợi của các công ty dầu khí Mỹ trong vùng Biển Ðông, không cho Trung Cộng ngăn cản. Ðây là một bước rẽ mới. và cũng là một cơ hội mà bất cứ chính quyền Việt Nam nào cũng nên bắt lấy, nếu họ thực sự lo cho quyền lợi của nước Việt Nam chứ không quá hèn nhát chỉ lắng nghe theo những ý kiến từ Bắc Kinh.
Ðể tạo thêm sức nặng cho những lời nói trên đây, ông Robert Gates còn nói thêm rằng chính phủ Mỹ khẳng định lại các cam kết lâu dài của họ tại Châu Á. Hơn nữa, họ tiếp tục gia tăng và mở rộng các liên minh cũng như các quan hệ trong khu vực này. Nhắc lại: gia tăng và mở rộng các liên minh ở Á Châu. Bài nói chuyện của ông Gates còn nhấn mạnh rằng chính sách an ninh của chính phủ Mỹ đang “mở rộng về mặt địa lý,” cứng rắn hơn về lập trường, và bền chắc hơn về chính trị (một câu nói khá mơ hồ cho mọi người tự tìm cách diễn giải).
Những lời tuyên bố của ông bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ không chỉ nhắm riêng vào mối xung đột giữa Trung Cộng với Việt Nam, mà còn nhắn nhủ chung cho các nước Ðông Nam Á khác. Từ nửa thế kỷ nay, nước Mỹ vẫn đánh lá bài “mối đe dọa của Trung Cộng” đối với các nước trong vùng này. Ðến nay, lá bài đó vẫn còn có giá trị trong việc khích động các chính phủ và người dân Á Châu. Họ vẫn thấy phải có lá dù che chở của nước Mỹ. Nếu không, các nước từ Nhật Bản, Nam Hàn, đến Indonesia, Phi Luật Tân sẽ phải tốn rất nhiều tiền để vũ trang, có nước sẽ làm bom nguyên tử!
Các nước Ðông và Nam Á đã được hưởng một thời gian kéo dài một thế hệ, từ 1955 đến 1985, khi Trung Cộng và Việt Cộng bị cầm chân trong cuộc chiến Việt Nam và chiến tranh giữa các nước cộng sản Việt, Hoa và Campuchia. Trong thời gian đó các chế độ cộng sản không thể thúc đẩy mạnh các phong trào nổi loạn ở các nước trong vùng Ðông Nam Á. Chính nhờ 30 năm đó mà các quốc gia, từ Mã Lai, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân, vân vân, có thời gian để phát triển kinh tế; nối gót Ðài Loan, Nam Hàn, và Hồng Kông. Một khi kinh tế đã phồn thịnh cho người dân đủ sống thì họ được bình yên vì chủ nghĩa cộng sản hết hấp dẫn.
Thêm một thế hệ nữa đã qua, đến năm 2010 này, ông Robert Gates nhắc lại sự có mặt của nước Mỹ trong vùng Biển Ðông. Trong lúc đó, mối đe dọa của chính sách bành trướng của Trung Cộng còn lộ liễu hơn, mặc dù đã chuyển từ chính sách gây bạo loạn cách mạng vô sản sang chủ trương liên kết kinh tế trong hòa bình. Nhưng đối với các nước Ðông Nam Á, đây là những lời cam kết mới của chính phủ Mỹ, chứng tỏ họ sẵn sàng giúp các nước vùng Biển Ðông đứng vững trước áp lực của Trung Cộng. Tất cả mọi người Việt Nam yêu nước phải nhìn thấy đây là một cơ hội phải bắt lấy. Nước Việt Nam không bao giờ nên liên kết với một cường quốc ở xa để khiêu khích hoặc gây hấn với nước láng giềng to lớn phương Bắc. Nhưng Việt Nam phải lợi dụng ngay bất cứ cường quốc nào, khi thấy họ có quyền lợi giống như mình vì phải cùng đối phó với chính sách bành trướng bá quyền của Trung Quốc.
Nguồn: Diễn Đàn Thế Kỷ
Ngô Nhân Dụng
Một vị độc giả Nhật báo Người Việt viết thư nêu ý kiến rằng nước Mỹ sẽ chẳng đời nào để tâm đến những tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc; lý do là vì Mỹ đã “nhường Việt Nam cho Trung Cộng” từ khi ông Nixon đi Tầu năm 1972 rồi. Vị độc giả nêu thêm một bằng cớ: Năm 1974 quân Trung Cộng tấn công chiếm quần đảo Hoàng Sa; trong khi Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa bị tàn sát thì Hạm Ðội Thứ Bẩy của Mỹ đứng ngoài không can thiệp mặc dù lúc đó nước Mỹ vẫn là đồng minh. Không những thế, khi tầu Việt Nam bị đánh chìm các sĩ quan đã điện xin chiến hạm Mỹ đến vớt các thủy thủ lênh đênh trên mặt biển, họ hoàn toàn bất động.
Ai cũng phải tức giận trước thái độ làm ngơ vô tình của Hạm Ðội Thứ Bẩy của Mỹ khi không cho tầu đi cứu vớt các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam. Không biết họ có lý do kỹ thuật nào để từ chối hay không; nhưng thái độ đó không thể nào tha thứ được.
Nhưng về mặt chính trị thì chúng ta hiểu tại sao chính phủ Mỹ quyết định đứng ngoài không can thiệp vào vụ Hoàng Sa năm 1974. Về mặt ngoại giao cũng như trên mặt chiến lược, nước Mỹ không thấy lý do nào đủ mạnh để can thiệp vào vụ Hoàng Sa.
Lúc đó chính phủ Nixon đã quyết định rút khỏi Việt Nam rồi. Năm 1968, trong khi đang tranh cử tổng thống, ông Richard Nixon đã cho cố vấn Henri Kissinger đến gặp riêng đại sứ Nga tại Washington, yêu cầu chính phủ Nga đừng làm gì ảnh hưởng tới cuộc bầu cử năm đó. Ông Kissinger nói với Ðại Sứ Dobrynin rằng ông Nixon chắc chắn sẽ rút quân Mỹ khỏi Việt Nam. Và ông nhấn mạnh: Sau đó chế độ chính trị ở miền Nam Việt Nam ra sao, Mỹ cũng không quan tâm, “dù đó là một chế độ cộng sản.” Ðại Sứ Anatoliy F. Dobrynin đã nhắc đến những lời Kissinger cam kết như vậy 2 lần trong cuốn hồi ký của ông ta in năm 1995; ông kể đủ chuyện về 24 năm làm đại sứ, qua sáu đời tổng thống Mỹ từ 1962 đến 1986 (ông mới qua đời năm 2010).
Năm 1974, sau khi Kissinger đã ký hiệp định Paris để rút quân, chính phủ Mỹ coi những tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Cộng không dính líu đến họ. Vào năm 1974, chính phủ Mỹ có thể đã nhìn trước thấy trước sau miền Nam sẽ bị cộng sản chiếm. Họ không thể vì bênh vực một quốc gia sắp rơi hoàn toàn vào tay một chính quyền cộng sản mà đi gây thêm rắc rối với Trung Quốc, một nước mà họ đang ve vãn để cùng hợp tác chống Nga Xô!
Từ thời gian đó cho tới gần đây, nước Mỹ vẫn giữ thái độ đứng ngoài mọi tranh chấp giữa hai nước cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Vùng Biển Ðông là địa bàn tranh chấp giữa hai nước cộng sản đó, nước Mỹ không dính vào, trừ khi có chuyện nào liên hệ tới quyền lợi của các nước Ðông Nam Á và các nước đồng minh của Mỹ như Ðài Loan, Nhật Bản hoặc Nam Hàn. Ngay cả sau khi chính phủ Mỹ đã mở bang giao với cộng sản Việt Nam, các vị tổng thống Mỹ như Clinton, Bush, đã đến thăm Việt Nam và giúp Việt Nam vào tổ chức Thương Mại Thế Giới, chính phủ Mỹ luôn công khai đứng ngoài trước các tranh chấp giữa Bắc Kinh và Hà Nội.
Nhưng trong tuần qua, có những dấu hiệu cho thấy chính sách của Mỹ đang thay đổi, qua các hành động và lời tuyên bố của ông bộ trưởng quốc phòng Mỹ. Ông Robert Gates đã nhân cuộc họp mặt ở Singapore về các vấn đề an ninh khu vực để gặp riêng bộ trưởng quốc phòng của chính quyền Cộng Sản Việt Nam. Hành động này có thể chỉ được coi là một cử chỉ xã giao bình thường nếu không có những lời tuyên bố của ông Gates, rõ ràng nhắm vào Trung Quốc.
Ông Gates nói thẳng đến vùng Biển Ðông (thường gọi là Nam Hải của Trung Quốc). Ông nhấn mạnh rằng Biển Ðông là một vùng đang căng thẳng. Nước Mỹ tỏ ra không phải chỉ quan tâm đến phía Ðông Bắc Á Châu, nơi Bắc Hàn đang gây hấn, mà vẫn ngó về phía Nam. Nhưng ông Gates nói rõ: “Biển Ðông không phải chỉ là mối lo của các nước chung quanh,” mà còn đáng quan tâm đối với “các nước có quyền lợi kinh tế liên can” đến vùng này. Không nói ai cũng hiểu: Nước Mỹ nằm trong các quốc gia có quyền lợi kinh tế trong vùng này. Nước Mỹ phải có mặt trong vùng Biển Ðông để bảo vệ các quyền lợi đó.
Ông Gates nhắc lại chính sách của Mỹ là “ổn định, bảo đảm quyền tự do đi lại và quyền phát triển kinh tế của các nước trong vùng Biển Ðông không bị ngăn cản.” Ðó chỉ là những nguyên tắc chung chung, không đủ để khiến cho Trung Quốc coi là có thái độ khiêu khích họ. Hai điều ai cũng có thể nói và ai cũng đồng ý: Cần ổn định và tự do sử dụng đường biển nối liền vùng Ðông và Nam Á Châu với Âu Châu và thế giới dầu lửa Á Rập.
Nhưng có một điều mới mẻ: Ðây là lần đầu tiên một vị bộ trưởng quốc phòng Mỹ nhấn mạnh thêm đến “quyền phát triển kinh tế không bị ngăn cản” của các quốc gia trong vùng Biển Ðông. Và ông ta nói trong một hội nghị về an ninh trong vùng.
Tại sao nhắc đến quyền lợi kinh tế? Vì, cũng trong câu chuyện ngày Thứ Bẩy vừa qua, ông Robert Gates nhắc đến chính sách Mỹ là phản đối tất cả mọi hăm dọa đối với các công ty năng lượng dầu khí của Mỹ hay của bất cứ nước nào khác, đang hoạt động trong khu vực này. Ðiều này rõ ràng không thể nào hiểu lầm được: Ông Gates ám chỉ việc Trung Cộng ngăn cấm các công ty Mỹ dò tìm dầu khí ở trong vùng biển mà Việt Nam coi là thuộc hải phận của mình.
Năm 2007, Bắc Kinh đã làm áp lực đối với công ty British Petrolium Anh Quốc, buộc họ ngưng hợp đồng khai thác dầu khí với Việt Nam. Năm 2008, công ty Mỹ Exxon Mobil cũng phải rút lui không tìm mỏ dầu ở thềm lục địa Việt Nam nữa. Chính quyền Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn bó tay và kín miệng trước các hành động áp bức đó. Các công ty dầu khí quốc tế thì phải tự lo quyền lợi kinh tế của chính họ: Nếu không nghe lệnh Bắc Kinh, họ sẽ mất các hợp đồng với Trung Quốc, là một thị trường nhiều triển vọng tốt hơn gấp bội. Nhưng chính phủ Mỹ không thể làm ngơ, vì họ chịu trách nhiệm với Quốc Hội Mỹ, nơi các công ty dầu lửa không ngừng vận động hành lang. Năm ngoái, nhân viên Bộ Ngoại Giao Mỹ đã bị các đại biểu Quốc Hội chất vấn về hiện tượng Trung Cộng ngăn cản các công ty Mỹ khi khai thác trong vùng Biển Ðông của Việt Nam.
Bây giờ, chính một vị bộ trưởng quốc phòng Mỹ đã đề cập tới vấn đề này, tại một hội nghị quốc tế về vấn đề an ninh trong vùng Ðông Nam Á. Cho nên, chúng ta có thể thấy một bước chuyển biến mới trong chính sách ngoại giao của chính phủ Mỹ. Họ xác định quyền lợi kinh tế của nước Mỹ trong vùng biển mà trước đây họ coi như các tranh chấp ở đó hoàn toàn là vấn đề của các nước chung quanh, nước Mỹ đứng xa không can thiệp. Ông Robert Gates xác định: Nước Mỹ có những quyền lợi kinh tế trong vùng Biển Ðông. Và người đại diện chính phủ Mỹ nói thẳng điều này với đại diện của chính phủ Bắc Kinh. Thử nhớ lại, năm 1974 chính phủ Nixon bỏ rơi các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam cho quân Trung Cộng tàn sát, 7 tháng trước khi ông Nixon từ chức. Ba mươi sáu năm sau, một chính phủ Mỹ khác xác định họ sẽ bảo vệ quyền lợi của các công ty dầu khí Mỹ trong vùng Biển Ðông, không cho Trung Cộng ngăn cản. Ðây là một bước rẽ mới. và cũng là một cơ hội mà bất cứ chính quyền Việt Nam nào cũng nên bắt lấy, nếu họ thực sự lo cho quyền lợi của nước Việt Nam chứ không quá hèn nhát chỉ lắng nghe theo những ý kiến từ Bắc Kinh.
Ðể tạo thêm sức nặng cho những lời nói trên đây, ông Robert Gates còn nói thêm rằng chính phủ Mỹ khẳng định lại các cam kết lâu dài của họ tại Châu Á. Hơn nữa, họ tiếp tục gia tăng và mở rộng các liên minh cũng như các quan hệ trong khu vực này. Nhắc lại: gia tăng và mở rộng các liên minh ở Á Châu. Bài nói chuyện của ông Gates còn nhấn mạnh rằng chính sách an ninh của chính phủ Mỹ đang “mở rộng về mặt địa lý,” cứng rắn hơn về lập trường, và bền chắc hơn về chính trị (một câu nói khá mơ hồ cho mọi người tự tìm cách diễn giải).
Những lời tuyên bố của ông bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ không chỉ nhắm riêng vào mối xung đột giữa Trung Cộng với Việt Nam, mà còn nhắn nhủ chung cho các nước Ðông Nam Á khác. Từ nửa thế kỷ nay, nước Mỹ vẫn đánh lá bài “mối đe dọa của Trung Cộng” đối với các nước trong vùng này. Ðến nay, lá bài đó vẫn còn có giá trị trong việc khích động các chính phủ và người dân Á Châu. Họ vẫn thấy phải có lá dù che chở của nước Mỹ. Nếu không, các nước từ Nhật Bản, Nam Hàn, đến Indonesia, Phi Luật Tân sẽ phải tốn rất nhiều tiền để vũ trang, có nước sẽ làm bom nguyên tử!
Các nước Ðông và Nam Á đã được hưởng một thời gian kéo dài một thế hệ, từ 1955 đến 1985, khi Trung Cộng và Việt Cộng bị cầm chân trong cuộc chiến Việt Nam và chiến tranh giữa các nước cộng sản Việt, Hoa và Campuchia. Trong thời gian đó các chế độ cộng sản không thể thúc đẩy mạnh các phong trào nổi loạn ở các nước trong vùng Ðông Nam Á. Chính nhờ 30 năm đó mà các quốc gia, từ Mã Lai, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân, vân vân, có thời gian để phát triển kinh tế; nối gót Ðài Loan, Nam Hàn, và Hồng Kông. Một khi kinh tế đã phồn thịnh cho người dân đủ sống thì họ được bình yên vì chủ nghĩa cộng sản hết hấp dẫn.
Thêm một thế hệ nữa đã qua, đến năm 2010 này, ông Robert Gates nhắc lại sự có mặt của nước Mỹ trong vùng Biển Ðông. Trong lúc đó, mối đe dọa của chính sách bành trướng của Trung Cộng còn lộ liễu hơn, mặc dù đã chuyển từ chính sách gây bạo loạn cách mạng vô sản sang chủ trương liên kết kinh tế trong hòa bình. Nhưng đối với các nước Ðông Nam Á, đây là những lời cam kết mới của chính phủ Mỹ, chứng tỏ họ sẵn sàng giúp các nước vùng Biển Ðông đứng vững trước áp lực của Trung Cộng. Tất cả mọi người Việt Nam yêu nước phải nhìn thấy đây là một cơ hội phải bắt lấy. Nước Việt Nam không bao giờ nên liên kết với một cường quốc ở xa để khiêu khích hoặc gây hấn với nước láng giềng to lớn phương Bắc. Nhưng Việt Nam phải lợi dụng ngay bất cứ cường quốc nào, khi thấy họ có quyền lợi giống như mình vì phải cùng đối phó với chính sách bành trướng bá quyền của Trung Quốc.
Nguồn: Diễn Đàn Thế Kỷ
HUY ĐỨC: CHẢY NƯỚC MẮT KHI THẤY DÂN MÌNH ĐƠN ĐỘC!
Huy Đức
Người dân ở Hà Nội và Sài Gòn đã lại xuống đường. Mặc dù mục tiêu của những cuộc tuần hành sáng 12-6-2011 vẫn là Trung Quốc, chính quyền đã cứng rắn hơn. Có lẽ, họ đã quên mất, mỗi khi đất nước có hiểm họa xâm lăng thì mục tiêu của dân chúng là những kẻ đang rập rình ngoài bờ cõi. Người dân vẫn còn nhớ, đất đai của tiền nhân thường hay bị mất mỗi khi “ở trong tường vách, da thịt tàn nhau”.
Hơn 300 năm trước, các Chúa Nguyễn đã đưa người đến Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1816, Gia Long chính thức thiết lập chủ quyền Việt Nam đối với cả hai quần đảo. Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, bản vẽ năm 1838 của Nhà Nguyễn đã thể hiện hai quần đảo này với tên gọi là Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa. Năm 1920, Chính quyền Pháp, với tư cách là nhà nước bảo hộ ở Đông Dương đã ra tuyên bố khẳng định chủ quyền và từ đó người Pháp hiện diện ở đây liên tục. Tháng 11-1946, khi người Pháp bắt đầu chiến tranh trở lại với Việt Minh, chỉ có thể đưa quân kiểm soát cụm phía Tây Hoàng Sa, Tưởng Giới Thạch đã cho đổ bộ lên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa và tháng 12-1946, đổ bộ lên Itu Aba, thuộc Trường Sa. Sau khi bị Mao đuổi khỏi lục địa Trung Hoa, năm 1950, quân Tưởng rút khỏi hai hòn đảo mà họ giữ gần 4 năm trước đó.
Năm 1954, theo Hiệp định Geneve, Hoàng Sa ở phía Nam Vĩ tuyến 17 sẽ thuộc về chính quyền miền Nam Việt Nam
.
Nhưng, tháng 4-1956, khi lực lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa ra tiếp quản, hai đảo lớn nhất đã bị “Quân giải phóng Trung Quốc” chiếm mất. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa trên thực tế, cai quản liên tục bốn đảo chính: Pattle (Hoàng Sa); Robert (Cam Tuyền); Duncan (Quang Hòa Đông) và Drummond (Duy Mộng). Riêng đảo Pattle, Việt Nam còn có một đài khí tượng thuộc hệ thống quốc tế. Từ năm 1956, Việt Nam Cộng hòa, về mặt pháp lý, vẫn khẳng định chủ quyền trên phần bị Bắc Kinh chiếm đóng.
Tháng 4-1972, khi miền Bắc dồn lực trong một chiến dịch thảm khốc ở Quảng Trị. Người Mỹ cần Bắc Kinh làm ngơ để họ dội bom ra vĩ tuyến 20. Ngày 4-4-1972, Kissinger đã phái Winston Lord tới New York gặp Hoàng Hoa, đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, để “trao một bức điện bằng lời”, nhắn Trung Quốc: “Hải quân Mỹ sẽ được lệnh ở lại tại khoảng cách 12 dặm”. Người Trung Quốc hiểu, nếu họ đánh Hoàng Sa, người Mỹ sẽ án binh bất động. Từ ngày 16-1-1974, Trung Quốc bắt đầu cho tàu ép sát Hoàng Sa. Theo Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại: “Các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ ở rất gần các vị trí chiến hạm Việt Nam”. Nhưng, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã phải đơn độc chống lại Trung Quốc xâm lăng. Theo tướng Thoại: “Hạm Đội Bảy của Mỹ đã không làm gì kể cứu vớt các đồng minh lâm nạn”. Kể từ ngày 19-1-1974, phần còn lại của Hoàng Sa Việt Nam bắt đầu bị Bắc Kinh chiếm đóng.
Tướng Giáp nhận được tin mất Hoàng Sa khi ông đang điều trị bệnh sỏi mật ở Liên Xô. Năm 1975,sau “chiến thắng BuônMa Thuột” , Tướng Giáp kiến nghị Bộ Chính trị “tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo” mà miền Nam đang chiếm giữ. Ngày 2-4-1975, Tướng Giáp trực tiếp chỉ thị cho Tướng Lê Trọng Tấn lúc bấy giờ đang ở Đà Nẵng: “Tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa”. Trước đó, ngày 30-3, Quân ủy cũng điện cho Võ Chí Công và Chu Huy Mân yêu cầu thực hiện. Chiều 4-4-1975, Quân ủy điện tiếp cho Quân khu V: “Kịp thời đánh chiếm các hòn đảo vùng Nam Hải, đặc biệt là các đảo Nam Sa. Việc này phải chuẩn bị gấp và bí mật, chỉ để cán bộ có trách nhiệm biết”. Ngày 9-4-1975, Cục Quân báo có tin quân đội Sài Gòn rút khỏi các đảo, Quân ủy gửi điện “tối khẩn” cho Võ Chí Công, Chu Huy Mân và Phó Tư lệnh Hải quân Hoàng Hữu Thái: “Các anh cho kiểm tra và hành động kịp thời… Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện này một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm”. Từ ngày 14-4-1975 đến ngày 28-4-1975, Quân Đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản tất cả những hòn đảo do quân đội Sài Gòn chiếm giữ.
Cho dù, theo lệnh ngày 13-4-1975 của Tướng Giáp, Quân đội miền Bắc đã không đụng vào các hòn đảo do Trung Quốc khi ấy đang chiếm giữ. Nhưng, ngày 5-5-1975, khi Đài Tiếng nói Việt Nam công bố, “Hải quân Việt Nam đã giải phóng quần đảo Trường Sa”, một phóng viên Tân Hoa Xã tên là Ling Dequan đang thường trú tại Hà Nội đã thấy “đắng chát ở trong miệng”. Ling Dequan, sau đó, nói Nayan Chanda: “Tin Việt Nam chiếm các hòn đảo đến như một cú shock vì trước đó họ đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên những hòn đảo ấy”. Mân Lực, tác giả cuốn sách “Mười năm chiến tranh Trung-Việt”, cũng gọi hành động tiếp quản Trường Sa của Hải Quân Việt Nam là “ngang nhiên chiếm đóng 4 đảo trong quần đảo Nam Sa của Trung Quốc”. Vì theo Mân Lực: “Từ năm 1958, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã thông báo cho Thủ tướng Chu Ân Lai, rõ ràng xác nhận hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng hiện nay họ tiền hậu bất nhất ngang nhiên tuyên truyền đây là lãnh thổ của họ, sửa đổi bản đồ vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào bản đồ Việt Nam”.
Ngày 4-9-1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố: “Hải phận 12 hải lý kể từ đất liền là của Hoa Lục”. Ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai công hàm mà đời sau có thể đọc được toàn văn trên báo Nhân Dân số ra ngày 22-9-1958: “Thưa đồng chí Tổng lý/ Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Cho dù, theo Mân Lực, Tuyên bố của Chu Ân Lai “có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải rất rõ ràng (trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa)”. Cho dù, theo ông Trần Việt Phương, người có 25 năm làm thư ký riêng cho Phạm Văn Đồng: “Lúc bấy giờ quan hệ Việt-Trung đang rất tốt. Về phía Việt Nam, đang có quan niệm ngây thơ về chủ nghĩa quốc tế vô sản; quan niệm ngây thơ từ người cao nhất của Ta chứ không phải ở cấp độ vừa. Về phía Trung Quốc hiểu ra sự ngây thơ đó và đã có ý đồ không tốt. Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam có trong máu hàng nghìn năm kinh nghiệm với Trung Quốc để, cho dù có sự ‘ngây thơ quốc tế vô sản’ cũng không đến mức có thể dẫn tới sự nhầm lẫn hoàn toàn”. “Công hàm 1958” là tuyên bố của một đồng minh, được đưa ra khi Mỹ đưa Hạm đội 7 hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe dọa chủ quyền của “đồng minh” Trung Quốc. Cho dù, “Công hàm 1958” tuyên bố những gì thì nó cũng hoàn toàn không có giá trị công nhận Hoàng Sa là của Bắc Kinh. Từ năm 1954 đến trước ngày 30-4-1975, theo Hiệp định Geneve được ký bởi các bên trong đó có Hà Nội và Bắc Kinh, thì Hoàng Sa và Trường Sa – ở thời điểm 1958 – không phải là phần thuộc về miền Bắc mà đang là lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam Cộng hòa, một quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc.
Sở dĩ những nhà văn, nhà báo như Ling Dequan, Mân Lực, bị shock khi nghe tin Việt Nam lấy lại Trường Sa, theo nhà nghiên cứu Dương Danh Di, với chính sách bưng bít thông tin, người dân Trung Quốc không hề biết Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ mà Việt Nam đã có chủ quyền liên tục hàng trăm năm, là phần lãnh thổ mà Chính quyền của họ mới “dùng vũ lực để cưỡng đoạt” trong thế kỷ 20 như những tên xâm lược.
Báo chí chính thống của Việt Nam, từ năm 1958, chưa bao giờ nhắc lại “Công hàm” của Phạm Văn Đồng, chưa giải thích “nội hàm” của tuyên bố ấy. Chính quyền, đã tới lúc nên tuyên bố về giới hạn pháp lý của Công hàm này, nên thừa nhận bản hiệp định (Geneve) mà mình đã đặt bút ký vào theo đó, Hoàng Sa và Trường Sa từ trước 30-4-1975 là phần lãnh thổ thuộc về Chính quyền Sài Gòn, nên dẫu Hà Nội có đưa ra tuyên bố gì thì cũng phải bị coi là “vô giá trị”. Đây không còn là chuyện “ăn-thua” với người anh em miền Nam mà là “mất-còn” với ngoại xâm. Đây cũng là lúc mà người dân tạm gác các bức xúc thường nhật để tập trung vào mối đe dọa đến từ phương Bắc.
Kinh nghiệm từ “Trận tử chiến Hoàng Sa” năm 1974, mọi hành động trên biển đông là để giữ đảo chứ không phải để chứng minh lòng dũng cảm. Nhưng, trước cùng một sự kiện, Hải quân và thường dân đôi khi vẫn có những sứ mệnh khác nhau. Người dân không có trách nhiệm phải cân nhắc mối tương quan sức mạnh giữa hai quốc gia. Người dân có khát vọng chứng minh: Một dân tộc nhỏ hơn không có nghĩa là cam lòng sợ hãi.
Những thanh niên, trí thức, thường dân hôm nay, 12-6-2011, biết chính quyền đang phải chịu những sức ép nào và những sức ép ấy giờ đây lại dồn lên vai họ. Nhưng, hàng ngàn người dân vẫn phải xuống đường. Họ không chỉ đòi lại đoạn cáp thứ hai bị chính quyền hải tặc Trung Quốc cắt trong vòng chỉ hơn một tuần. Họ muốn nói với người phương Bắc, cho dù lịch sử có trải thêm mấy nghìn năm, cho dù bị lừa phỉnh bởi “tình láng giềng, đồng chí”, người Việt Nam vẫn hiểu Trung Quốc là ai và bảo vệ chủ quyền là ý chí không có gì lay chuyển được.
Không phủ nhận những lý do dẫn đến nỗi sợ mơ hồ trong những ngày này. Nhưng, cũng trong những ngày này, chính quyền có cơ hội không hề mơ hồ để đứng bên cạnh nhân dân, đoàn kết mọi người Việt Nam, không chỉ để cho mục tiêu chống ngoại xâm mà còn có thể cho mục tiêu “ổn định”.
Chảy nước mắt khi cảm thấy dân mình đơn độc.
Theo blog Facebook của Huy Đức
Nguồn: Phạm Viết Đào-Blog.
Được đăng bởi Nguyễn Xuân Diện vào lúc 19:01
Gửi email bài đăng này BlogThis! Chia sẻ lên Twitter Chia sẻ lên Facebook Chia sẻ lên Google Buzz
19 nhận xét:
Liên nói...
Anh Huy Đức và Anh Diện ơi! Tôi có học mà không thể hiểu nổi những chuyện đời lắt léo trên đất nước ta. Không thể nói được gì ngoài chữ BUỒN
19:29 Ngày 12 tháng 6 năm 2011
bui cong tu nói...
mot bai viet sau sac . nhieu thong tin /nen gui bai nay cho bo chinh tri nghien cuu /
19:33 Ngày 12 tháng 6 năm 2011
nguyen xuan nói...
buồn quá, nhìn người dân SG bị công an bắt.
19:47 Ngày 12 tháng 6 năm 2011
http://nguyenxuansaigon.blogspot.com/ nói...
buồn quá, nhìn người dân SG bị công an bắt.
19:48 Ngày 12 tháng 6 năm 2011
FeeA2Z nói...
Đau và Buồn...
Chúng ta sẽ để lại gì cho con cháu??? Hoàng Sa đã mất? Trường Sa? hay Bô-xít Tây Nguyên? hay rừng phòng hộ đầu nguồn???
Con cháu chúng ta sẽ nghĩ gì khi cha ông chúng không còn gì để lại cho chúng???
Đau, đau lắm...
Việt Nam ơi...
20:02 Ngày 12 tháng 6 năm 2011
Nặc danh nói...
lâu ko thấy anh Huy Đức, độc giả Lạng Sơn nhớ anh lắm đó.Nhất là sau bài "Biên giới tháng 2".Chúc anh "Bình an vô sự".
21:03 Ngày 12 tháng 6 năm 2011
Nguyễn Thông nói...
Bác Diện ơi, gửi bài cho bác theo địa chỉ nào? Kính bác.
Nguyễn Thông
Người dân ở Hà Nội và Sài Gòn đã lại xuống đường. Mặc dù mục tiêu của những cuộc tuần hành sáng 12-6-2011 vẫn là Trung Quốc, chính quyền đã cứng rắn hơn. Có lẽ, họ đã quên mất, mỗi khi đất nước có hiểm họa xâm lăng thì mục tiêu của dân chúng là những kẻ đang rập rình ngoài bờ cõi. Người dân vẫn còn nhớ, đất đai của tiền nhân thường hay bị mất mỗi khi “ở trong tường vách, da thịt tàn nhau”.
Hơn 300 năm trước, các Chúa Nguyễn đã đưa người đến Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1816, Gia Long chính thức thiết lập chủ quyền Việt Nam đối với cả hai quần đảo. Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, bản vẽ năm 1838 của Nhà Nguyễn đã thể hiện hai quần đảo này với tên gọi là Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa. Năm 1920, Chính quyền Pháp, với tư cách là nhà nước bảo hộ ở Đông Dương đã ra tuyên bố khẳng định chủ quyền và từ đó người Pháp hiện diện ở đây liên tục. Tháng 11-1946, khi người Pháp bắt đầu chiến tranh trở lại với Việt Minh, chỉ có thể đưa quân kiểm soát cụm phía Tây Hoàng Sa, Tưởng Giới Thạch đã cho đổ bộ lên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa và tháng 12-1946, đổ bộ lên Itu Aba, thuộc Trường Sa. Sau khi bị Mao đuổi khỏi lục địa Trung Hoa, năm 1950, quân Tưởng rút khỏi hai hòn đảo mà họ giữ gần 4 năm trước đó.
Năm 1954, theo Hiệp định Geneve, Hoàng Sa ở phía Nam Vĩ tuyến 17 sẽ thuộc về chính quyền miền Nam Việt Nam
.
Nhưng, tháng 4-1956, khi lực lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa ra tiếp quản, hai đảo lớn nhất đã bị “Quân giải phóng Trung Quốc” chiếm mất. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa trên thực tế, cai quản liên tục bốn đảo chính: Pattle (Hoàng Sa); Robert (Cam Tuyền); Duncan (Quang Hòa Đông) và Drummond (Duy Mộng). Riêng đảo Pattle, Việt Nam còn có một đài khí tượng thuộc hệ thống quốc tế. Từ năm 1956, Việt Nam Cộng hòa, về mặt pháp lý, vẫn khẳng định chủ quyền trên phần bị Bắc Kinh chiếm đóng.
Tháng 4-1972, khi miền Bắc dồn lực trong một chiến dịch thảm khốc ở Quảng Trị. Người Mỹ cần Bắc Kinh làm ngơ để họ dội bom ra vĩ tuyến 20. Ngày 4-4-1972, Kissinger đã phái Winston Lord tới New York gặp Hoàng Hoa, đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, để “trao một bức điện bằng lời”, nhắn Trung Quốc: “Hải quân Mỹ sẽ được lệnh ở lại tại khoảng cách 12 dặm”. Người Trung Quốc hiểu, nếu họ đánh Hoàng Sa, người Mỹ sẽ án binh bất động. Từ ngày 16-1-1974, Trung Quốc bắt đầu cho tàu ép sát Hoàng Sa. Theo Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại: “Các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ ở rất gần các vị trí chiến hạm Việt Nam”. Nhưng, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã phải đơn độc chống lại Trung Quốc xâm lăng. Theo tướng Thoại: “Hạm Đội Bảy của Mỹ đã không làm gì kể cứu vớt các đồng minh lâm nạn”. Kể từ ngày 19-1-1974, phần còn lại của Hoàng Sa Việt Nam bắt đầu bị Bắc Kinh chiếm đóng.
Tướng Giáp nhận được tin mất Hoàng Sa khi ông đang điều trị bệnh sỏi mật ở Liên Xô. Năm 1975,sau “chiến thắng BuônMa Thuột” , Tướng Giáp kiến nghị Bộ Chính trị “tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo” mà miền Nam đang chiếm giữ. Ngày 2-4-1975, Tướng Giáp trực tiếp chỉ thị cho Tướng Lê Trọng Tấn lúc bấy giờ đang ở Đà Nẵng: “Tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa”. Trước đó, ngày 30-3, Quân ủy cũng điện cho Võ Chí Công và Chu Huy Mân yêu cầu thực hiện. Chiều 4-4-1975, Quân ủy điện tiếp cho Quân khu V: “Kịp thời đánh chiếm các hòn đảo vùng Nam Hải, đặc biệt là các đảo Nam Sa. Việc này phải chuẩn bị gấp và bí mật, chỉ để cán bộ có trách nhiệm biết”. Ngày 9-4-1975, Cục Quân báo có tin quân đội Sài Gòn rút khỏi các đảo, Quân ủy gửi điện “tối khẩn” cho Võ Chí Công, Chu Huy Mân và Phó Tư lệnh Hải quân Hoàng Hữu Thái: “Các anh cho kiểm tra và hành động kịp thời… Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện này một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm”. Từ ngày 14-4-1975 đến ngày 28-4-1975, Quân Đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản tất cả những hòn đảo do quân đội Sài Gòn chiếm giữ.
Cho dù, theo lệnh ngày 13-4-1975 của Tướng Giáp, Quân đội miền Bắc đã không đụng vào các hòn đảo do Trung Quốc khi ấy đang chiếm giữ. Nhưng, ngày 5-5-1975, khi Đài Tiếng nói Việt Nam công bố, “Hải quân Việt Nam đã giải phóng quần đảo Trường Sa”, một phóng viên Tân Hoa Xã tên là Ling Dequan đang thường trú tại Hà Nội đã thấy “đắng chát ở trong miệng”. Ling Dequan, sau đó, nói Nayan Chanda: “Tin Việt Nam chiếm các hòn đảo đến như một cú shock vì trước đó họ đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên những hòn đảo ấy”. Mân Lực, tác giả cuốn sách “Mười năm chiến tranh Trung-Việt”, cũng gọi hành động tiếp quản Trường Sa của Hải Quân Việt Nam là “ngang nhiên chiếm đóng 4 đảo trong quần đảo Nam Sa của Trung Quốc”. Vì theo Mân Lực: “Từ năm 1958, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã thông báo cho Thủ tướng Chu Ân Lai, rõ ràng xác nhận hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng hiện nay họ tiền hậu bất nhất ngang nhiên tuyên truyền đây là lãnh thổ của họ, sửa đổi bản đồ vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào bản đồ Việt Nam”.
Ngày 4-9-1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố: “Hải phận 12 hải lý kể từ đất liền là của Hoa Lục”. Ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai công hàm mà đời sau có thể đọc được toàn văn trên báo Nhân Dân số ra ngày 22-9-1958: “Thưa đồng chí Tổng lý/ Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.
Cho dù, theo Mân Lực, Tuyên bố của Chu Ân Lai “có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải rất rõ ràng (trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa)”. Cho dù, theo ông Trần Việt Phương, người có 25 năm làm thư ký riêng cho Phạm Văn Đồng: “Lúc bấy giờ quan hệ Việt-Trung đang rất tốt. Về phía Việt Nam, đang có quan niệm ngây thơ về chủ nghĩa quốc tế vô sản; quan niệm ngây thơ từ người cao nhất của Ta chứ không phải ở cấp độ vừa. Về phía Trung Quốc hiểu ra sự ngây thơ đó và đã có ý đồ không tốt. Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam có trong máu hàng nghìn năm kinh nghiệm với Trung Quốc để, cho dù có sự ‘ngây thơ quốc tế vô sản’ cũng không đến mức có thể dẫn tới sự nhầm lẫn hoàn toàn”. “Công hàm 1958” là tuyên bố của một đồng minh, được đưa ra khi Mỹ đưa Hạm đội 7 hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe dọa chủ quyền của “đồng minh” Trung Quốc. Cho dù, “Công hàm 1958” tuyên bố những gì thì nó cũng hoàn toàn không có giá trị công nhận Hoàng Sa là của Bắc Kinh. Từ năm 1954 đến trước ngày 30-4-1975, theo Hiệp định Geneve được ký bởi các bên trong đó có Hà Nội và Bắc Kinh, thì Hoàng Sa và Trường Sa – ở thời điểm 1958 – không phải là phần thuộc về miền Bắc mà đang là lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam Cộng hòa, một quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc.
Sở dĩ những nhà văn, nhà báo như Ling Dequan, Mân Lực, bị shock khi nghe tin Việt Nam lấy lại Trường Sa, theo nhà nghiên cứu Dương Danh Di, với chính sách bưng bít thông tin, người dân Trung Quốc không hề biết Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ mà Việt Nam đã có chủ quyền liên tục hàng trăm năm, là phần lãnh thổ mà Chính quyền của họ mới “dùng vũ lực để cưỡng đoạt” trong thế kỷ 20 như những tên xâm lược.
Báo chí chính thống của Việt Nam, từ năm 1958, chưa bao giờ nhắc lại “Công hàm” của Phạm Văn Đồng, chưa giải thích “nội hàm” của tuyên bố ấy. Chính quyền, đã tới lúc nên tuyên bố về giới hạn pháp lý của Công hàm này, nên thừa nhận bản hiệp định (Geneve) mà mình đã đặt bút ký vào theo đó, Hoàng Sa và Trường Sa từ trước 30-4-1975 là phần lãnh thổ thuộc về Chính quyền Sài Gòn, nên dẫu Hà Nội có đưa ra tuyên bố gì thì cũng phải bị coi là “vô giá trị”. Đây không còn là chuyện “ăn-thua” với người anh em miền Nam mà là “mất-còn” với ngoại xâm. Đây cũng là lúc mà người dân tạm gác các bức xúc thường nhật để tập trung vào mối đe dọa đến từ phương Bắc.
Kinh nghiệm từ “Trận tử chiến Hoàng Sa” năm 1974, mọi hành động trên biển đông là để giữ đảo chứ không phải để chứng minh lòng dũng cảm. Nhưng, trước cùng một sự kiện, Hải quân và thường dân đôi khi vẫn có những sứ mệnh khác nhau. Người dân không có trách nhiệm phải cân nhắc mối tương quan sức mạnh giữa hai quốc gia. Người dân có khát vọng chứng minh: Một dân tộc nhỏ hơn không có nghĩa là cam lòng sợ hãi.
Những thanh niên, trí thức, thường dân hôm nay, 12-6-2011, biết chính quyền đang phải chịu những sức ép nào và những sức ép ấy giờ đây lại dồn lên vai họ. Nhưng, hàng ngàn người dân vẫn phải xuống đường. Họ không chỉ đòi lại đoạn cáp thứ hai bị chính quyền hải tặc Trung Quốc cắt trong vòng chỉ hơn một tuần. Họ muốn nói với người phương Bắc, cho dù lịch sử có trải thêm mấy nghìn năm, cho dù bị lừa phỉnh bởi “tình láng giềng, đồng chí”, người Việt Nam vẫn hiểu Trung Quốc là ai và bảo vệ chủ quyền là ý chí không có gì lay chuyển được.
Không phủ nhận những lý do dẫn đến nỗi sợ mơ hồ trong những ngày này. Nhưng, cũng trong những ngày này, chính quyền có cơ hội không hề mơ hồ để đứng bên cạnh nhân dân, đoàn kết mọi người Việt Nam, không chỉ để cho mục tiêu chống ngoại xâm mà còn có thể cho mục tiêu “ổn định”.
Chảy nước mắt khi cảm thấy dân mình đơn độc.
Theo blog Facebook của Huy Đức
Nguồn: Phạm Viết Đào-Blog.
Được đăng bởi Nguyễn Xuân Diện vào lúc 19:01
Gửi email bài đăng này BlogThis! Chia sẻ lên Twitter Chia sẻ lên Facebook Chia sẻ lên Google Buzz
19 nhận xét:
Liên nói...
Anh Huy Đức và Anh Diện ơi! Tôi có học mà không thể hiểu nổi những chuyện đời lắt léo trên đất nước ta. Không thể nói được gì ngoài chữ BUỒN
19:29 Ngày 12 tháng 6 năm 2011
bui cong tu nói...
mot bai viet sau sac . nhieu thong tin /nen gui bai nay cho bo chinh tri nghien cuu /
19:33 Ngày 12 tháng 6 năm 2011
nguyen xuan nói...
buồn quá, nhìn người dân SG bị công an bắt.
19:47 Ngày 12 tháng 6 năm 2011
http://nguyenxuansaigon.blogspot.com/ nói...
buồn quá, nhìn người dân SG bị công an bắt.
19:48 Ngày 12 tháng 6 năm 2011
FeeA2Z nói...
Đau và Buồn...
Chúng ta sẽ để lại gì cho con cháu??? Hoàng Sa đã mất? Trường Sa? hay Bô-xít Tây Nguyên? hay rừng phòng hộ đầu nguồn???
Con cháu chúng ta sẽ nghĩ gì khi cha ông chúng không còn gì để lại cho chúng???
Đau, đau lắm...
Việt Nam ơi...
20:02 Ngày 12 tháng 6 năm 2011
Nặc danh nói...
lâu ko thấy anh Huy Đức, độc giả Lạng Sơn nhớ anh lắm đó.Nhất là sau bài "Biên giới tháng 2".Chúc anh "Bình an vô sự".
21:03 Ngày 12 tháng 6 năm 2011
Nguyễn Thông nói...
Bác Diện ơi, gửi bài cho bác theo địa chỉ nào? Kính bác.
Nguyễn Thông
Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011
Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2011
Việt Nam trên bàn cờ chính trị thế giới
“Cá lớn nuốt cá bé”, câu tục ngữ từ đời xưa để lại chắc chắn sẽ mãi mãi không bao giờ lỗi thời cả về nghĩa đen và nghĩa bóng. Con cá lớn phải ăn con cá bé, và con cá bé phải làm mồi nuôi sống con cá lớn. Dây chuyền quy luật tự nhiên đó giúp cân bằng sinh thái theo vòng xoay chuyển vần của tự nhiên, tạo thành chu kỳ khép kín cho sự sống của muôn loài…
Đối với mỗi quốc gia trên thế giới, từ thời Cổ Đại đến thời Trung Cổ và gần hơn nữa là thời Cận Đại, họ đều lấy sức mạnh quân sự để khẳng định uy quyền của mình trong khu vực, châu lục, và đôi khi vượt ra xa hơn – Đến bên kia bờ đại dương. Nước lớn (và mạnh), thường hay xâm lược nước nhỏ, chèn ép nước nhỏ cũng là lẽ thường muôn thủa, như câu chuyện con cá lớn ăn con cá bé hơn là vậy. Không nói xa xôi, nước Việt xưa và đế quốc Phù Nam (Thái Lan cũ) cũng đã một thời tranh giành nhau xâu xé các nước nhỏ như Chiêm Thành, Cam Bốt. Lịch sử Việt Nam thì viết là “Cha Ông ta mang gươm đi mở cõi” cho có vẻ nhẹ nhàng bớt chuyện này. Giống như mang cày, mang cuốc đi… khai hoang vậy thôi!
Sau Thế Chiến 2, trật tự trên thế giới được phân chia rành mạch thành hai phe. Phe Xã Hội Chủ Nghĩa, đứng đầu là Liên Xô, còn phe Tư Bản Chủ Nghĩa đứng đầu là Hoa Kỳ và các đồng minh. Trật tự tạm thời đó ngày nay đã bị thay đổi…
Với những kiến tạo địa chất phức tạp, nhiều Đứt Gãy, nhiều đồi núi, nhiều vùng đất đỏ Ba Zan cho nên Việt Nam là một nước hứa hẹn có tiềm năng khoáng sản rất lớn. Việt Nam còn có đường bờ biển dài hàng ngàn km, rất thuận lợi cho việc khai thác thủy sản và giao thương buôn bán nhờ có nhiều các cảng biển. Mặt khác, về địa thế chiến lược quân sự thì Việt Nam là lá chắn trên Biển Đông cho Ba Nước Đông Dương và một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Nó cũng là địa bàn bàn đạp lý tưởng cho việc tập kết quân sự từ mặt Thái Bình Dương có thể tấn công vào sâu trong lục địa Châu Á.
Chính vì Việt Nam có địa thế quan trọng về chiến lược quân sự và tài nguyên giàu có, cho nên ngay từ trước khi Thế Chiến 2 Kết thúc. Người Nga và cả Người Mỹ đã có những bước đi chiến lược, nhằm biến Việt Nam thành đồng minh đắc lực cho kế hoạch toàn cầu lâu dài của họ. Đối với các “đồng chí” Nga và sau này là Trung Quốc thì Việt Nam (đứng đầu là Hồ Chí Minh) có điều kiện gần gũi hơn, vì họ cùng có tư tưởng Cộng Sản. Phe Xã Hội Chủ Nghĩa thì mong Việt Nam thành một “tiền đồn của XHCN”, và họ có cơ sở thuận lợi, khi lãnh tụ của cách mạng tại Việt Nam lúc bấy giờ là Hồ Chí Minh từng được học tập và đào tạo nhiều năm bí mật tại Trung Quốc và Nga.
Cho đến tận ngày nay, không mấy người Việt Nam biết rằng Hoa Kỳ đã “để mắt” tới Việt Nam từ trước năm 1945. Tuy Hoa Kỳ rất bận rộn với Chiến Tranh Thế Giới Lần 2, nhưng họ vẫn kịp nhận ra sự quan trọng của Việt Nam trên bàn cờ chính trị, và quân sự của thế giới. Ngày 12/11/1944 trung úy Shaw, một nhân viên tình báo của OSS (tiền thân của CIA ngày nay) lái một chiếc máy bay loại nhỏ từ địa phận Trung Quốc đến vùng trời Cao Bằng (khu căn cứ địa của Việt Minh). Lấy lý do là phi cơ bị trục trặc kỹ thuật nên viên sỹ quan tình báo này đã hạ cánh xuống căn cứ của Việt Minh. Ngay lập tức, con người dũng cảm này đã bị bắt làm tù binh. Qủa nhiên, từ vị thế của một tù binh, trung úy Shaw đã trở thành thượng khách của Hồ Chí Minh, sau khi tiết lộ danh tính và “khai” rằng mình là người Mỹ và có “quan hệ quen biết thân cận” với chính phủ Mỹ.
Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp (lúc ấy chưa có quân hàm) đã nắm bắt lấy cơ hội quý báu này. Liền gửi thư cho chính phủ và quân đội Mỹ bày tỏ mong muốn của Việt Minh muốn “làm bạn” với Người Mỹ đồng thời xin giúp đỡ về tài chính và kỹ thuật quân sự. Hồ Chí Minh đã cử người tin cẩn bảo vệ “viên phi công đi lạc” này sang tận bên kia biên giới Việt – Trung.
Ngày 20/03/1945 tư lệnh quân Mỹ tại Trung Quốc là tướng Wedemeyer đã thừa lệnh chính phủ Hoa Kỳ, phát động một chiến dịch tình báo quân sự lớn tại Đông Dương, lấy tên là QUAIL. Ông đã ban hành lệnh cung cấp vũ khí và khí tài quân sự cho tất cả các tổ chức chống quân Nhật trên toàn cõi Đông Dương. Tất nhiên là “người bạn” Việt Minh đã giành được quyền ưu tiên số một. Không những thế, cơ quan tình báo Mỹ OSS còn cử một nhóm chuyên gia quân sự do viên sỹ quan đứng đầu OSS tại Đông Dương tên là Archimedes Patti, trực tiếp đến căn cứ Tân Trào của Việt Minh để huấn luyện và đào tạo một khóa nhân viên kỹ thuật điện báo cho Việt Minh. Đồng thời chỉ dẫn Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp chiến thuật đánh du kích, cũng như cách tổ chức quân đội. Sau hơn ba tháng lưu lại Tân Trào, nhóm tình báo Mỹ cải trang là người Pháp và người Hoa này đã rút đi, để lại nhiều khí tài quân báo cho Việt Minh.
Như vậy, Hồ Chí Minh và Việt Minh đã tự nhiên được “Trời cho” một món quà vô giá từ người Mỹ. Nhưng quan trọng nhất, và có tính quyết định lịch sử cho Cách Mạng Tháng Tám của Việt Minh thành công. Chính là nhờ có tin tức thông qua liên lạc điện đài do tình báo Hoa Kỳ cung cấp thời điểm quân Đức thất thủ hoàn toàn. Và đặc biệt là ngày giờ quân Nhật đầu hàng Đồng Minh sau khi bị ném bom nguyên tử tại Hirosima và Nagasaki, để quân Việt Minh kịp thời báo tin cho lực lượng của họ tại Hà Nội cướp lấy chính quyền mà quân đội Nhật đã bỏ trống.
Việc người Mỹ giúp Việt Minh giành chính quyền đã là một sai lầm lớn không thể sửa chữa. Tình báo Mỹ, cụ thể là OSS đã “trao trứng cho Ác” một cách vô tư mà không biết rằng, Hồ Chí Minh là người của Quốc Tế Vô Sản 3. Hồ Chí Minh sẽ đi theo CNCS chứ không thể đồng hóa bằng CNTB của Mỹ và Phương Tây. Người Mỹ đã chậm chân (và chủ quan) trong việc dưới cương vị làm nhiệm vụ quốc tế (thực chất là phân chia tầm ảnh hưởng với Người Nga trên bản đồ chính trị thế giới) tại Việt Nam. Vì sự chậm trễ do chủ quan tin tưởng vào Hồ Chí Minh, Người Mỹ đã phải tiêu tốn hàng trăm ngàn tỉ USD vào cuộc chiến Việt Nam, hàng trăm ngàn công dân Mỹ đã bị chết, bị thương trong cuộc chiến Nam – Bắc Việt Nam. Thực chất, đó là cuộc đối đầu giữa hai phe, XHCN và TBCN mà người dân Việt Nam và người dân Mỹ đã chịu nhiều mất mát về nhân mạng, của cải và tinh thần. Trong khi đó hậu thuẫn đắc lực cho CSVN đưa nhân dân Việt Nam ra làm vật hiến thân, làm lá chắn cho CNCS lại là Liên Xô và Trung Quốc chứ không phải ai khác!…
Thay vì đem quân đổ bộ vào Việt Nam ngay lập tức, bất chấp người đồng minh Pháp già yếu và bạc nhược, thì Người Mỹ lại quá tin vào Việt Minh, quá tin vào “người học trò” của tình báo Mỹ OSS là Hồ Chí Minh. Hậu quả thảm khốc là nhân dân Việt Nam đã phải “giơ đầu chịu báng” bằng hai cuộc chiến tranh đẫm máu kinh hoàng!
Hiện nay Việt Nam vẫn là một nước nhỏ, người ta sẽ nói: Thì vẫn là nước nhỏ, làm sao nó “lớn” lên được? Có cách đấy! Đó là cần có nhiều đồng minh “ruột”. Vậy Việt Nam tìm đồng minh ở đâu?
Nếu Việt Nam chọn đồng minh là Trung Quốc?
Việt Nam là một chú “cá” bé đã nhiều lần bị con “cá” Mập Trắng Trung Quốc tấn công, mà bài học nóng “anh hai” CSTQ dạy cho Việt Nam tháng 02/1979 vẫn còn nguyên giá trị và dấu tích đau thương. Nhưng đó không phải là tất cả! Vì một lý do nào đó hai nước láng giềng xung đột vũ trang cũng là chuyện thường thấy. Quan trọng nhất là hiện nay Trung Quốc quá dư thừa dân số (khoảng 1 tỉ 300 triệu), chưa kể đến lực lượng Hoa Kiều khoảng vài trăm triệu rải ra khắp các nước trên thế giới. Cái gì quá nhiều thì không quý! Kể cả bạc vàng châu báu và con người cũng không là ngoại lệ. Vậy thì Trung Quốc chỉ cần đất đai và tài nguyên mà thôi. Như vậy chúng ta có thể đoán ra số phận của dân tộc Việt Nam sẽ ra sao, nếu Việt Nam hoàn toàn bị khống chế trong bàn tay của “đồng minh” Trung Quốc?
Nếu Việt Nam chọn đồng minh là Mỹ?
CSVN thời trước năm 1975 tuyên truyền rằng Mỹ là quân cướp nước. Nhiều người tin (tôi cũng tin)! Nhưng ngày nay chúng ta hãy kiểm chứng xem sự thật như thế nào? Sau năm 1945, người Mỹ đổ quân ra đồn trú làm nhiệm vụ quốc tế tại rất nhiều quốc gia là đồng minh của họ. Có thể kể ra như Nhật Bản, Nam Hàn vv…, cho đến nay chưa thấy người Mỹ cướp nước của ai, dù chỉ là vài thước đất, hay vài cm lãnh hải. Chỉ thấy các nước đó có tự do dân chủ văn minh, và đều là những nước giàu có hùng mạnh. Không nói đâu xa, năm 1975 so sánh hai miền Nam và Bắc Việt Nam với nhau cũng đã thấy một trời và một vực rồi. Thì ra quân “cướp” này có vẻ cũng đáng yêu đấy chứ! Nếu một mình tôi có giá trị như là một quốc gia, thì tôi cũng tự giác cho người Mỹ “ăn cướp”, “cai trị” giống như Nhật Bản, Hàn Quốc ngay lập tức, còn cái “độc nập” và “tự ro” theo kiểu cộng sản thì thôi, cũng phải xin kiếu… cả nón!
Thế mà “mười sáu chữ vàng” của “người anh” Trung Quốc, với đủ những mỹ từ tốt đẹp, không hề có từ nào là từ “ăn cướp”, thì lại làm mất đi hàng trăm km2 lãnh thổ của Việt Nam, mất đi hàng chục ngàn km2 lãnh hải, hàng trăm hòn đảo lớn bé, nổi, chìm tại Hoàng Sa và Trường Sa! Là anh, muốn cho đàn em phục mình thì phải gương mẫu, quảng đại, hào phóng. Nhưng rõ ràng Trung Quốc (do ĐCS nắm quyền) không có những đức tính ấy. Vì vậy, những kẻ nào trong TƯĐCVN nuôi ý định núp bóng “người anh” hẹp hòi kia, hãy coi chừng, kẻo hối thì không bao giờ còn kịp nữa!!!
Tuy vậy, nhưng hãy tin rằng: Người Mỹ không dám bỏ rơi Việt Nam trên bàn cờ chính trị thế giới!
Thứ nhất, duyên nợ của nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ vẫn còn. Những hứa hẹn chiến lược về kinh tế sẽ đem lại những mối lợi không nhỏ nhờ công nghệ Khai Khoáng, Hóa Dầu, Du Lịch vv… vẫn có sức hút mạnh các nhà đầu tư Mỹ tại Việt Nam.
Thứ hai và là điều quan trọng nhất, đó là vị trí chiến lược của Việt Nam trong cuộc “so găng” giữa Mỹ với chính Trung Quốc nếu khả năng này xảy ra. Hiện nay Nga đã là NATO + 1, dù bề ngoài họ (Nga, Mỹ) có vẻ “gân guốc” với nhau. Nhưng dù sao thì điều đó cũng rất có lợi cho các nhà sản xuất vũ khí (Nga và Mỹ) hốt bạc nhờ vũ khí bán đắt hàng mà thôi. Vậy thì mối đe dọa đối với vị trí siêu cường số 1 của người Mỹ không có ai khác ngoài Trung Quốc!
Ngày 12/06/2009 đại tướng Carrol Howic Chandler, tư lệnh không quân Mỹ khu vực Thái Bình Dương bất ngờ thăm Việt Nam. Sự kiện tiếp theo đó là tàu chiến của hải quân Mỹ xuất hiện để tìm và khai quật hài cốt http://archive.danchimviet.com/articles/1199/1/Vit-Nam-cho-tu-Hi-quan-M-vao-tim-kim-nhan-o-ti-bin-ong/Page1.html binh sỹ Mỹ trên biển. Hai động thái này có vẻ như vô tình nhưng nó lại diễn ra đúng lúc tình hình trên Biển Đông căng thẳng bởi lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc, trên vùng biển mà họ cho rằng thuộc quyền kiểm soát của họ. Tại sao lại là một vị đại tướng tư lệnh không quân Mỹ thăm Việt Nam, mà không phải một binh chủng nào khác?
Trong chiến tranh hiện đại thì không quân là một lực lượng phản ứng nhanh, có thể đánh đòn phủ đầu chớp nhoáng. Máy bay phản lực còn là phương tiện thông dụng chuyên chở và tấn công bằng bom (nhất là Bom Nguyên Tử). Không quân Mỹ cũng là lực lượng hùng mạnh nhất thế giới. Chỉ riêng Pháo Đài Bay B52 (mỗi chiếc trị giá khoảng 800 triệu USD) nước Mỹ đã có hàng ngàn chiếc bị liệt vào danh sách “quá hạn sử dụng” và đem vứt bỏ tại các nghĩa địa B52 như ở căn cứ không quân Davis Monthan, thành phố Tucson, bang Arizona. Những chiếc máy bay đó vẫn có thể bay tốt, nhưng Người Mỹ đã vứt bỏ vì dư thừa quá nhiều và nó được cho là đã lỗi thời với quân đội Mỹ.
Một trong những thành công lớn nhưng vẫn còn trong vòng bí mật đó là Người Mỹ (và cả Người Anh) đã chế tạo thành công loại máy bay hình dạng đĩa mà nhiều người quen gọi là Đĩa Bay từ cuối thập niên 50 của thế kỷ trước. Loại Đĩa Bay này chính là một phát minh quan trọng của các nhà khoa học thời Đức Quốc Xã mà Người Mỹ đã đoạt được phát minh này, như một chiến lợi phẩm trong Thế Chiến 2. Những hiện tượng UFO xuất hiện trên bầu trời Nước Anh và Nước Mỹ từ năm 1957 đến nay, được cho là của Người Ngoài Hành Tinh và những câu chuyện về những vụ nổ UFO kỳ bí, sau này người ta điều tra ra được nhờ phương pháp Đồng Vị Phóng Xạ phân tích mảnh vỡ UFO mới biết được là nó do con người chế tạo nên. Nếu loại máy bay Đĩa Bay này được trang bị vũ khí hạt nhân, thì việc vô hiệu hóa hệ thống radar của đối phương và tấn công hủy diệt đối phương trong chớp nhoáng không còn là vấn đề.
Sự xuất hiện của tư lệnh không quân khu vực Châu Á Thái Bình Dương tại Việt Nam là một lời “nhắc nhở” sức mạnh của không quân Mỹ đối với Trung Quốc!
Có thể thấy rõ mối quan ngại của Người Mỹ đối với sự lớn mạnh của Trung Quốc, đặc biệt là khi Trung Quốc phóng thành công tàu vũ trụ Thần Châu. Tuy nhiên, người Mỹ hay lo xa, trên thực tế Trung Quốc rất yếu về không quân, hải quân. Họ chỉ mạnh pháo binh và bộ binh (chiến thuật Biển Người) mà thôi.
Việt Nam hãy thân Mỹ, hãy biến người Mỹ thành đồng minh thân cận của mình. Giống như những chú cá nhỏ khôn ngoan nép mình dưới bụng chú cá Nhà Táng khổng lồ, vừa dễ bắt mồi vừa được an toàn cho bản thân, mà mình thì chẳng mất gì. Tuy nhiên, một yêu cầu đơn giản đặt ra là, ĐCSVN cần phải chấp nhận dân chủ kiểu Mỹ, xóa bỏ độc quyền chính trị. Như vậy vừa tháo bỏ được xiềng xích oan khiên mà nhân dân Việt Nam phải chịu đựng nhiều năm qua, vừa tạo cơ hội phát triển lành mạnh cho đất nước. Nếu hợp tác toàn diện với Mỹ và thực hiện dân chủ đa nguyên đa đảng, có thể ĐCSVN sẽ phải rời khỏi vị trí lãnh đạo đất nước. Nhưng cái lợi cho đất nước, cho nhân dân thì đã nhìn thấy quá rõ, qua những tấm gương thân Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan v.v…
Vừa rồi đại sứ Mỹ tại Việt Nam ông Michael Michalak đã tuyên bố về vấn đề tự do tôn giáo là, Việt Nam chưa đến mức phải đưa vào danh sách CPI. Đó là sách lược của Người Mỹ. Việc đưa Việt Nam trở lại danh sách CPI không khó vì đã có đủ bằng chứng. Nhưng điều cần làm ngay là không để ĐCSVN tuột khỏi tay Người Mỹ và hoàn toàn chạy theo quan thầy là ĐCSTQ mới là điều mà Người Mỹ cần quan tâm hàng đầu.
Người Việt Nam cũng đừng ảo tưởng về một nước Mỹ sẽ chiến đấu một cách vô điều kiện, mà không có gì gắn với những quyền lợi hoặc là vị thế của mình. Và đó cũng là điều bất công đối với họ! Người Mỹ quan tâm đến Việt Nam, chính là quan tâm đến quyền lợi của nước Mỹ. Đó cũng là điều mà các cử tri Mỹ mong muốn các vị tổng thống của họ phải làm tốt!
Vị trí quan trọng của Việt Nam trên bàn cờ chính trị thế giới vẫn đang là cơ hội còn bỏ ngỏ.
Bài do tác giả gửi tới.
THEO DÒNG SỰ KIỆN:
Trên đường đi đến “thiên đàng …” Tản mạn của một người theo Cộng sản (Kết)
Trên đường đi đến “thiên đàng …” Tản mạn của một người theo Cộng sản [1]
Ngủ say trên trang báo Việt Nam: Từ PMU18 đến Bùi Văn Thanh
Trên bàn cờ môi sinh: Thông minh máy móc và bất lực con người
Trên những nẻo đường hội nhập (Kết)
Trên những nẻo đường hội nhập (I)
Đối với mỗi quốc gia trên thế giới, từ thời Cổ Đại đến thời Trung Cổ và gần hơn nữa là thời Cận Đại, họ đều lấy sức mạnh quân sự để khẳng định uy quyền của mình trong khu vực, châu lục, và đôi khi vượt ra xa hơn – Đến bên kia bờ đại dương. Nước lớn (và mạnh), thường hay xâm lược nước nhỏ, chèn ép nước nhỏ cũng là lẽ thường muôn thủa, như câu chuyện con cá lớn ăn con cá bé hơn là vậy. Không nói xa xôi, nước Việt xưa và đế quốc Phù Nam (Thái Lan cũ) cũng đã một thời tranh giành nhau xâu xé các nước nhỏ như Chiêm Thành, Cam Bốt. Lịch sử Việt Nam thì viết là “Cha Ông ta mang gươm đi mở cõi” cho có vẻ nhẹ nhàng bớt chuyện này. Giống như mang cày, mang cuốc đi… khai hoang vậy thôi!
Sau Thế Chiến 2, trật tự trên thế giới được phân chia rành mạch thành hai phe. Phe Xã Hội Chủ Nghĩa, đứng đầu là Liên Xô, còn phe Tư Bản Chủ Nghĩa đứng đầu là Hoa Kỳ và các đồng minh. Trật tự tạm thời đó ngày nay đã bị thay đổi…
Với những kiến tạo địa chất phức tạp, nhiều Đứt Gãy, nhiều đồi núi, nhiều vùng đất đỏ Ba Zan cho nên Việt Nam là một nước hứa hẹn có tiềm năng khoáng sản rất lớn. Việt Nam còn có đường bờ biển dài hàng ngàn km, rất thuận lợi cho việc khai thác thủy sản và giao thương buôn bán nhờ có nhiều các cảng biển. Mặt khác, về địa thế chiến lược quân sự thì Việt Nam là lá chắn trên Biển Đông cho Ba Nước Đông Dương và một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Nó cũng là địa bàn bàn đạp lý tưởng cho việc tập kết quân sự từ mặt Thái Bình Dương có thể tấn công vào sâu trong lục địa Châu Á.
Chính vì Việt Nam có địa thế quan trọng về chiến lược quân sự và tài nguyên giàu có, cho nên ngay từ trước khi Thế Chiến 2 Kết thúc. Người Nga và cả Người Mỹ đã có những bước đi chiến lược, nhằm biến Việt Nam thành đồng minh đắc lực cho kế hoạch toàn cầu lâu dài của họ. Đối với các “đồng chí” Nga và sau này là Trung Quốc thì Việt Nam (đứng đầu là Hồ Chí Minh) có điều kiện gần gũi hơn, vì họ cùng có tư tưởng Cộng Sản. Phe Xã Hội Chủ Nghĩa thì mong Việt Nam thành một “tiền đồn của XHCN”, và họ có cơ sở thuận lợi, khi lãnh tụ của cách mạng tại Việt Nam lúc bấy giờ là Hồ Chí Minh từng được học tập và đào tạo nhiều năm bí mật tại Trung Quốc và Nga.
Cho đến tận ngày nay, không mấy người Việt Nam biết rằng Hoa Kỳ đã “để mắt” tới Việt Nam từ trước năm 1945. Tuy Hoa Kỳ rất bận rộn với Chiến Tranh Thế Giới Lần 2, nhưng họ vẫn kịp nhận ra sự quan trọng của Việt Nam trên bàn cờ chính trị, và quân sự của thế giới. Ngày 12/11/1944 trung úy Shaw, một nhân viên tình báo của OSS (tiền thân của CIA ngày nay) lái một chiếc máy bay loại nhỏ từ địa phận Trung Quốc đến vùng trời Cao Bằng (khu căn cứ địa của Việt Minh). Lấy lý do là phi cơ bị trục trặc kỹ thuật nên viên sỹ quan tình báo này đã hạ cánh xuống căn cứ của Việt Minh. Ngay lập tức, con người dũng cảm này đã bị bắt làm tù binh. Qủa nhiên, từ vị thế của một tù binh, trung úy Shaw đã trở thành thượng khách của Hồ Chí Minh, sau khi tiết lộ danh tính và “khai” rằng mình là người Mỹ và có “quan hệ quen biết thân cận” với chính phủ Mỹ.
Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp (lúc ấy chưa có quân hàm) đã nắm bắt lấy cơ hội quý báu này. Liền gửi thư cho chính phủ và quân đội Mỹ bày tỏ mong muốn của Việt Minh muốn “làm bạn” với Người Mỹ đồng thời xin giúp đỡ về tài chính và kỹ thuật quân sự. Hồ Chí Minh đã cử người tin cẩn bảo vệ “viên phi công đi lạc” này sang tận bên kia biên giới Việt – Trung.
Ngày 20/03/1945 tư lệnh quân Mỹ tại Trung Quốc là tướng Wedemeyer đã thừa lệnh chính phủ Hoa Kỳ, phát động một chiến dịch tình báo quân sự lớn tại Đông Dương, lấy tên là QUAIL. Ông đã ban hành lệnh cung cấp vũ khí và khí tài quân sự cho tất cả các tổ chức chống quân Nhật trên toàn cõi Đông Dương. Tất nhiên là “người bạn” Việt Minh đã giành được quyền ưu tiên số một. Không những thế, cơ quan tình báo Mỹ OSS còn cử một nhóm chuyên gia quân sự do viên sỹ quan đứng đầu OSS tại Đông Dương tên là Archimedes Patti, trực tiếp đến căn cứ Tân Trào của Việt Minh để huấn luyện và đào tạo một khóa nhân viên kỹ thuật điện báo cho Việt Minh. Đồng thời chỉ dẫn Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp chiến thuật đánh du kích, cũng như cách tổ chức quân đội. Sau hơn ba tháng lưu lại Tân Trào, nhóm tình báo Mỹ cải trang là người Pháp và người Hoa này đã rút đi, để lại nhiều khí tài quân báo cho Việt Minh.
Như vậy, Hồ Chí Minh và Việt Minh đã tự nhiên được “Trời cho” một món quà vô giá từ người Mỹ. Nhưng quan trọng nhất, và có tính quyết định lịch sử cho Cách Mạng Tháng Tám của Việt Minh thành công. Chính là nhờ có tin tức thông qua liên lạc điện đài do tình báo Hoa Kỳ cung cấp thời điểm quân Đức thất thủ hoàn toàn. Và đặc biệt là ngày giờ quân Nhật đầu hàng Đồng Minh sau khi bị ném bom nguyên tử tại Hirosima và Nagasaki, để quân Việt Minh kịp thời báo tin cho lực lượng của họ tại Hà Nội cướp lấy chính quyền mà quân đội Nhật đã bỏ trống.
Việc người Mỹ giúp Việt Minh giành chính quyền đã là một sai lầm lớn không thể sửa chữa. Tình báo Mỹ, cụ thể là OSS đã “trao trứng cho Ác” một cách vô tư mà không biết rằng, Hồ Chí Minh là người của Quốc Tế Vô Sản 3. Hồ Chí Minh sẽ đi theo CNCS chứ không thể đồng hóa bằng CNTB của Mỹ và Phương Tây. Người Mỹ đã chậm chân (và chủ quan) trong việc dưới cương vị làm nhiệm vụ quốc tế (thực chất là phân chia tầm ảnh hưởng với Người Nga trên bản đồ chính trị thế giới) tại Việt Nam. Vì sự chậm trễ do chủ quan tin tưởng vào Hồ Chí Minh, Người Mỹ đã phải tiêu tốn hàng trăm ngàn tỉ USD vào cuộc chiến Việt Nam, hàng trăm ngàn công dân Mỹ đã bị chết, bị thương trong cuộc chiến Nam – Bắc Việt Nam. Thực chất, đó là cuộc đối đầu giữa hai phe, XHCN và TBCN mà người dân Việt Nam và người dân Mỹ đã chịu nhiều mất mát về nhân mạng, của cải và tinh thần. Trong khi đó hậu thuẫn đắc lực cho CSVN đưa nhân dân Việt Nam ra làm vật hiến thân, làm lá chắn cho CNCS lại là Liên Xô và Trung Quốc chứ không phải ai khác!…
Thay vì đem quân đổ bộ vào Việt Nam ngay lập tức, bất chấp người đồng minh Pháp già yếu và bạc nhược, thì Người Mỹ lại quá tin vào Việt Minh, quá tin vào “người học trò” của tình báo Mỹ OSS là Hồ Chí Minh. Hậu quả thảm khốc là nhân dân Việt Nam đã phải “giơ đầu chịu báng” bằng hai cuộc chiến tranh đẫm máu kinh hoàng!
Hiện nay Việt Nam vẫn là một nước nhỏ, người ta sẽ nói: Thì vẫn là nước nhỏ, làm sao nó “lớn” lên được? Có cách đấy! Đó là cần có nhiều đồng minh “ruột”. Vậy Việt Nam tìm đồng minh ở đâu?
Nếu Việt Nam chọn đồng minh là Trung Quốc?
Việt Nam là một chú “cá” bé đã nhiều lần bị con “cá” Mập Trắng Trung Quốc tấn công, mà bài học nóng “anh hai” CSTQ dạy cho Việt Nam tháng 02/1979 vẫn còn nguyên giá trị và dấu tích đau thương. Nhưng đó không phải là tất cả! Vì một lý do nào đó hai nước láng giềng xung đột vũ trang cũng là chuyện thường thấy. Quan trọng nhất là hiện nay Trung Quốc quá dư thừa dân số (khoảng 1 tỉ 300 triệu), chưa kể đến lực lượng Hoa Kiều khoảng vài trăm triệu rải ra khắp các nước trên thế giới. Cái gì quá nhiều thì không quý! Kể cả bạc vàng châu báu và con người cũng không là ngoại lệ. Vậy thì Trung Quốc chỉ cần đất đai và tài nguyên mà thôi. Như vậy chúng ta có thể đoán ra số phận của dân tộc Việt Nam sẽ ra sao, nếu Việt Nam hoàn toàn bị khống chế trong bàn tay của “đồng minh” Trung Quốc?
Nếu Việt Nam chọn đồng minh là Mỹ?
CSVN thời trước năm 1975 tuyên truyền rằng Mỹ là quân cướp nước. Nhiều người tin (tôi cũng tin)! Nhưng ngày nay chúng ta hãy kiểm chứng xem sự thật như thế nào? Sau năm 1945, người Mỹ đổ quân ra đồn trú làm nhiệm vụ quốc tế tại rất nhiều quốc gia là đồng minh của họ. Có thể kể ra như Nhật Bản, Nam Hàn vv…, cho đến nay chưa thấy người Mỹ cướp nước của ai, dù chỉ là vài thước đất, hay vài cm lãnh hải. Chỉ thấy các nước đó có tự do dân chủ văn minh, và đều là những nước giàu có hùng mạnh. Không nói đâu xa, năm 1975 so sánh hai miền Nam và Bắc Việt Nam với nhau cũng đã thấy một trời và một vực rồi. Thì ra quân “cướp” này có vẻ cũng đáng yêu đấy chứ! Nếu một mình tôi có giá trị như là một quốc gia, thì tôi cũng tự giác cho người Mỹ “ăn cướp”, “cai trị” giống như Nhật Bản, Hàn Quốc ngay lập tức, còn cái “độc nập” và “tự ro” theo kiểu cộng sản thì thôi, cũng phải xin kiếu… cả nón!
Thế mà “mười sáu chữ vàng” của “người anh” Trung Quốc, với đủ những mỹ từ tốt đẹp, không hề có từ nào là từ “ăn cướp”, thì lại làm mất đi hàng trăm km2 lãnh thổ của Việt Nam, mất đi hàng chục ngàn km2 lãnh hải, hàng trăm hòn đảo lớn bé, nổi, chìm tại Hoàng Sa và Trường Sa! Là anh, muốn cho đàn em phục mình thì phải gương mẫu, quảng đại, hào phóng. Nhưng rõ ràng Trung Quốc (do ĐCS nắm quyền) không có những đức tính ấy. Vì vậy, những kẻ nào trong TƯĐCVN nuôi ý định núp bóng “người anh” hẹp hòi kia, hãy coi chừng, kẻo hối thì không bao giờ còn kịp nữa!!!
Tuy vậy, nhưng hãy tin rằng: Người Mỹ không dám bỏ rơi Việt Nam trên bàn cờ chính trị thế giới!
Thứ nhất, duyên nợ của nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ vẫn còn. Những hứa hẹn chiến lược về kinh tế sẽ đem lại những mối lợi không nhỏ nhờ công nghệ Khai Khoáng, Hóa Dầu, Du Lịch vv… vẫn có sức hút mạnh các nhà đầu tư Mỹ tại Việt Nam.
Thứ hai và là điều quan trọng nhất, đó là vị trí chiến lược của Việt Nam trong cuộc “so găng” giữa Mỹ với chính Trung Quốc nếu khả năng này xảy ra. Hiện nay Nga đã là NATO + 1, dù bề ngoài họ (Nga, Mỹ) có vẻ “gân guốc” với nhau. Nhưng dù sao thì điều đó cũng rất có lợi cho các nhà sản xuất vũ khí (Nga và Mỹ) hốt bạc nhờ vũ khí bán đắt hàng mà thôi. Vậy thì mối đe dọa đối với vị trí siêu cường số 1 của người Mỹ không có ai khác ngoài Trung Quốc!
Ngày 12/06/2009 đại tướng Carrol Howic Chandler, tư lệnh không quân Mỹ khu vực Thái Bình Dương bất ngờ thăm Việt Nam. Sự kiện tiếp theo đó là tàu chiến của hải quân Mỹ xuất hiện để tìm và khai quật hài cốt http://archive.danchimviet.com/articles/1199/1/Vit-Nam-cho-tu-Hi-quan-M-vao-tim-kim-nhan-o-ti-bin-ong/Page1.html binh sỹ Mỹ trên biển. Hai động thái này có vẻ như vô tình nhưng nó lại diễn ra đúng lúc tình hình trên Biển Đông căng thẳng bởi lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc, trên vùng biển mà họ cho rằng thuộc quyền kiểm soát của họ. Tại sao lại là một vị đại tướng tư lệnh không quân Mỹ thăm Việt Nam, mà không phải một binh chủng nào khác?
Trong chiến tranh hiện đại thì không quân là một lực lượng phản ứng nhanh, có thể đánh đòn phủ đầu chớp nhoáng. Máy bay phản lực còn là phương tiện thông dụng chuyên chở và tấn công bằng bom (nhất là Bom Nguyên Tử). Không quân Mỹ cũng là lực lượng hùng mạnh nhất thế giới. Chỉ riêng Pháo Đài Bay B52 (mỗi chiếc trị giá khoảng 800 triệu USD) nước Mỹ đã có hàng ngàn chiếc bị liệt vào danh sách “quá hạn sử dụng” và đem vứt bỏ tại các nghĩa địa B52 như ở căn cứ không quân Davis Monthan, thành phố Tucson, bang Arizona. Những chiếc máy bay đó vẫn có thể bay tốt, nhưng Người Mỹ đã vứt bỏ vì dư thừa quá nhiều và nó được cho là đã lỗi thời với quân đội Mỹ.
Một trong những thành công lớn nhưng vẫn còn trong vòng bí mật đó là Người Mỹ (và cả Người Anh) đã chế tạo thành công loại máy bay hình dạng đĩa mà nhiều người quen gọi là Đĩa Bay từ cuối thập niên 50 của thế kỷ trước. Loại Đĩa Bay này chính là một phát minh quan trọng của các nhà khoa học thời Đức Quốc Xã mà Người Mỹ đã đoạt được phát minh này, như một chiến lợi phẩm trong Thế Chiến 2. Những hiện tượng UFO xuất hiện trên bầu trời Nước Anh và Nước Mỹ từ năm 1957 đến nay, được cho là của Người Ngoài Hành Tinh và những câu chuyện về những vụ nổ UFO kỳ bí, sau này người ta điều tra ra được nhờ phương pháp Đồng Vị Phóng Xạ phân tích mảnh vỡ UFO mới biết được là nó do con người chế tạo nên. Nếu loại máy bay Đĩa Bay này được trang bị vũ khí hạt nhân, thì việc vô hiệu hóa hệ thống radar của đối phương và tấn công hủy diệt đối phương trong chớp nhoáng không còn là vấn đề.
Sự xuất hiện của tư lệnh không quân khu vực Châu Á Thái Bình Dương tại Việt Nam là một lời “nhắc nhở” sức mạnh của không quân Mỹ đối với Trung Quốc!
Có thể thấy rõ mối quan ngại của Người Mỹ đối với sự lớn mạnh của Trung Quốc, đặc biệt là khi Trung Quốc phóng thành công tàu vũ trụ Thần Châu. Tuy nhiên, người Mỹ hay lo xa, trên thực tế Trung Quốc rất yếu về không quân, hải quân. Họ chỉ mạnh pháo binh và bộ binh (chiến thuật Biển Người) mà thôi.
Việt Nam hãy thân Mỹ, hãy biến người Mỹ thành đồng minh thân cận của mình. Giống như những chú cá nhỏ khôn ngoan nép mình dưới bụng chú cá Nhà Táng khổng lồ, vừa dễ bắt mồi vừa được an toàn cho bản thân, mà mình thì chẳng mất gì. Tuy nhiên, một yêu cầu đơn giản đặt ra là, ĐCSVN cần phải chấp nhận dân chủ kiểu Mỹ, xóa bỏ độc quyền chính trị. Như vậy vừa tháo bỏ được xiềng xích oan khiên mà nhân dân Việt Nam phải chịu đựng nhiều năm qua, vừa tạo cơ hội phát triển lành mạnh cho đất nước. Nếu hợp tác toàn diện với Mỹ và thực hiện dân chủ đa nguyên đa đảng, có thể ĐCSVN sẽ phải rời khỏi vị trí lãnh đạo đất nước. Nhưng cái lợi cho đất nước, cho nhân dân thì đã nhìn thấy quá rõ, qua những tấm gương thân Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan v.v…
Vừa rồi đại sứ Mỹ tại Việt Nam ông Michael Michalak đã tuyên bố về vấn đề tự do tôn giáo là, Việt Nam chưa đến mức phải đưa vào danh sách CPI. Đó là sách lược của Người Mỹ. Việc đưa Việt Nam trở lại danh sách CPI không khó vì đã có đủ bằng chứng. Nhưng điều cần làm ngay là không để ĐCSVN tuột khỏi tay Người Mỹ và hoàn toàn chạy theo quan thầy là ĐCSTQ mới là điều mà Người Mỹ cần quan tâm hàng đầu.
Người Việt Nam cũng đừng ảo tưởng về một nước Mỹ sẽ chiến đấu một cách vô điều kiện, mà không có gì gắn với những quyền lợi hoặc là vị thế của mình. Và đó cũng là điều bất công đối với họ! Người Mỹ quan tâm đến Việt Nam, chính là quan tâm đến quyền lợi của nước Mỹ. Đó cũng là điều mà các cử tri Mỹ mong muốn các vị tổng thống của họ phải làm tốt!
Vị trí quan trọng của Việt Nam trên bàn cờ chính trị thế giới vẫn đang là cơ hội còn bỏ ngỏ.
Bài do tác giả gửi tới.
THEO DÒNG SỰ KIỆN:
Trên đường đi đến “thiên đàng …” Tản mạn của một người theo Cộng sản (Kết)
Trên đường đi đến “thiên đàng …” Tản mạn của một người theo Cộng sản [1]
Ngủ say trên trang báo Việt Nam: Từ PMU18 đến Bùi Văn Thanh
Trên bàn cờ môi sinh: Thông minh máy móc và bất lực con người
Trên những nẻo đường hội nhập (Kết)
Trên những nẻo đường hội nhập (I)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)














